zalo-icon
phone-icon
14/01/2023 Lê Thị Hồng Nga

Quy định về bồi thường khi cắt giảm nhân sự

Bồi thường khi cắt giảm nhân sự tại tình huống nào được xem là nghĩa vụ của doanh nghiệp, người lao động cần làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình khi là nhân sự bị cắt giảm?

Do sự ảnh hưởng của đại dịch Covid 19 nhiều doanh nghiệp tại nước ta buộc phải cắt giảm nhân sự, gây ảnh hưởng lớn đến đời sống người lao động, trong trường hợp này người lao động cần làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình? nếu không thực hiện bồi thường doanh nghiệp có bị phạt không? Sau đây hãy cùng Hãng Luật Quốc tế Thành Công tìm hiểu nhé.

Doanh nghiệp có buộc phải bồi thường khi cắt giảm nhân sự?

Thực tế có rất nhiều lý do dẫn đến quyết định cắt giảm nhân sự và chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động.

Tuy nhiên không phải mọi trường hợp, khi doanh nghiệp cắt giảm nhân sự đều buộc phải buộc bồi thường cho người lao động. 

Trường hợp doanh nghiệp cắt giảm nhân sự đúng theo quy định của Pháp luật chỉ cần thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản tiền thuộc quyền lợi của người lao động do Luật định, ví dụ như tiền lương, tiền trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm, ngoài ra còn có thể là tiền phép năm chưa nghỉ hoặc chưa nghỉ hết …

Trường hợp doanh nghiệp cắt giảm nhân sự không đúng quy định, cụ thể là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động một cách trái pháp luật thì hướng xử lý như sau: 

cơ sở pháp lý: Điều 41 Bộ luật Lao động năm 2019

  • Thứ nhất: Người sử dụng lao động hải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết;
  • Thứ hai: Người sử dụng lao động phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
  • Thứ ba: Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì người sử dụng lao động phải trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động trong những ngày không báo trước, không kể đến rên thực tế người lao động có hay không đến làm việc.

Tuy nhiên người lao động lúc này có thể đồng ý quay trở lại làm việc hoặc không.

  • Trường hợp người lao động đã nhận tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm của người sử dụng lao động nhưng đồng ý trở lại làm việc thì hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp này.
  • Trường hợp người lao động đồng ý quay trở lại làm việc, nhưng vị trí công việc đã giao kết trước đó không còn thì hai bên có  thể  thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.
  • Trường hợp người lao động không muốn trở lại làm việc thì ngoài khoản tiền phải trả  lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc, khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động thì người sử dụng lao động còn phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định của Luật để chấm dứt hợp đồng lao động.
  • Trường hợp doanh nghiệp không muốn nhận người lao động trở lại làm việc và được người đó đồng ý thì việc bồi thường thường tương tự trường hợp người lao động không muốn trở lại làm việc. Bên cạnh đó hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động (lưu ý: tiền bồi thường ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động đã giao kết từ trước) để chấm dứt hợp đồng lao động.
Doanh nghiệp có buộc phải bồi thường khi cắt giảm nhân sự
Doanh nghiệp có buộc phải bồi thường khi cắt giảm nhân sự

Nhân viên bị cắt giảm nhân sự được thanh toán quyền lợi thế nào?

Hiện nay quyền lợi của người lao động được ưu tiên bảo vệ, Theo đó dù việc cắt giảm nhân sự đúng hay trái Luật thì doanh nghiệp đều có trách nhiệm thanh toán đầy đủ và đúng hạn các khoản tiền được Luật quy định là quyền lợi khi bị cắt giảm nhân sự của người lao động.  

Điều 48 Bộ Luật Lao động 2019 có quy định về trách nhiệm khi chấm dứt hợp đồng lao động. Theo đó thời hạn để các bên thực hiện nghĩa vụ thanh toán là 14 ngày, có thể kéo dài đến 30 ngày nếu việc doanh nghiệp chấm dứt hợp đồng lao động với nhân sự là do doanh nghiệp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc gặp lý do kinh tế, hoặc do Chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã; do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc dịch bệnh nguy hiểm.

Không bồi thường khi cắt giảm nhân sự, doanh nghiệp có bị phạt?

Khi khi cắt giảm nhân sự  việc thanh toán các khoản tiền liên quan đến quyền lợi của người lao động là nghĩa vụ và trách nhiệm của người sử dụng lao động. Trường hợp Doanh nghiệp cố tình không thanh toán tiền bồi thường cho người lao động bị công ty cắt giảm thì doanh nghiệp có thể bị phạt vi phạm hành chính theo khoản 2 Điều 12 Nghị định 12/2022/NĐ-CP. Theo đó mức phạt có thể lên đến 20 triệu đồng. Cụ thể như sau: 

  • Hành vi vi phạm liên quan đến từ 01 người đến 10 người lao động: Phạt 01 – 02 triệu đồng.
  • Hành vi vi phạm liên quan đến từ 11 người đến 50 người lao động: Phạt 02 – 05 triệu đồng.
  • Hành vi vi phạm liên quan đến 51 người đến 100 người lao động: Phạt 05 – 10 triệu đồng.
  • Hành vi vi phạm liên quan đến từ 101 người đến 300 người lao động: Phạt 10 – 15 triệu đồng.
  • Hành vi vi phạm liên quan đến  từ 301 người lao động trở lên: Phạt 15 – 20 triệu đồng.

Bên cạnh đó, người sử dụng lao động còn có thể bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là thanh toán đầy đủ các khoản tiền liên quan đến quyền lợi cho người lao động, cộng thêm khoản tiền lãi nhất định tính theo lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của ngân hàng thương mại nhà nước đã công bố tại thời điểm xử phạt.

Hi vọng những thông tin liên quan đến việc bồi thường khi cắt giảm nhân sự mà Hãng Luật Quốc tế Thành Công chia sẻ trên đây, sẽ giúp bạn đọc hiểu thêm về quyền và nghĩa vụ của mình. Nếu còn vướng mắc xin hãy liên hệ với Luật sư của chúng tôi.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

goingay
0963.766.477
goingay
1900 633 710